Sự Tích Phật Bản Mệnh Thiên Thù Thiên Nhãn Vị Phật Hộ Mênh Cho Người Tuổi Tý Gặp May Mắn Bình An

  16/12/2020

  Shop Hà Nội Giá Rẻ

Facebook Google+ Twitter Pinterest Tumblr LinkedIn Addthis

Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn là ai?
Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn trong dân gian xả thân cứu độ mọi loài, hành đạo giúp đời có thật không phải là hoang tưởng và Bồ Tát cũng là tâm Phật, là "Thật Tánh" của những con người biết tu tâm dưỡng tánh, rốt ráo đoạn trừ ma chướng tự thân.

Tượng Phổ Hiền Bồ tát và những điều Phật tử nên biết

Hình ảnh tôn tượng Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn mỗi bàn tay đều có con mắt trí tuệ, trong tay cầm nhiều pháp khí dùng hàng phục ma chướng, những cánh tay cầm kiếm, búa, tràng hoa, châu báu, vải lụa gấm vóc, hoa sen, bánh xe pháp, bình tịnh thủy, chày kim cang.. cũng tượng trưng cho mọi ngành nghề trong cuộc sống trên thế gian này.

Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn còn có danh hiệu Bồ Tát Chuẩn Đề. Qua hình tượng Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn chúng ta cũng có thể thấy được ý nghĩa Công Đức và Phước Đức của Bồ Tát Hạnh. Với tư tưởng giải thoát rốt ráo tuyệt đối của đạo Phật, nhận thức tâm lý con người ở thế gian thân, miệng, ý là nguyên nhân tạo những nghiệp thiện hay ác qua nhiều kiếp luân hồi, chỉ có tu hạnh bồ tát mới chuyển đổi được nhân quả.

Cho nên những tôn tượng bồ tát vẫn luôn luôn là đề tài thu hút một cách mãnh liệt các tín đồ Phật giáo. Hiểu theo chánh kiến một cách sáng suốt, thì tín ngưỡng dân gian chỉ nhằm mục đích giác ngộ thật tánh chân như bình dị tự nhiên và cốt tủy đạo Phật dạy: “Tu tâm chuyển ý hành bồ tát đạo”. 

Trên mạng lưới internet, nhiều người phổ biến rộng rãi một đoạn phim ngắn vũ khúc ngàn tay ngàn mắt, do các nghệ nhân câm điếc biểu diễn rất công phu điêu luyện. Hình ảnh đẹp của những nghệ nhân khuyết tật, múa theo mẫu pho tượng Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn, một biểu tượng tuyệt vời về tư tưởng Từ Bi và Trí Tuệ của đạo Phật.

Ngoài những đường nét tinh tế điêu luyện, họ thể hiện tuyệt đỉnh của nghệ thuật Đông Nam Á, bằng con tim (tâm) và khối óc (ý), vì họ hoàn toàn không nghe được âm thanh của tiếng nhạc. Tuy họ bất hạnh, nhưng khi biểu diễn, gương mặt các nghệ nhân khuyết tật nầy toát ra sự bình an từ nội tâm trong ánh hào quang của Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn. 
 
Trí tuệ (công đức) của Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn
Trong những khóa lễ thường có phẩm trì chú Đại Bi: “Thiên Thủ Thiên Nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni…” là sự truyền đạt cho người tụng đọc cảm nhận đại trí lực, đại từ bi, vô quái ngại của vị Bồ Tát ngàn tay ngàn mắt. Các Bậc tu hành giác ngộ trong dân gian ngày xưa có lẽ cảm nhận được sự mầu nhiệm bất khả tư nghì nầy, khó nói hết được, nên các Ngài tạo tôn tượng bồ tát từ những tảng đá trong thiên nhiên. Đó là những phương pháp giáo hóa chúng sanh không bằng lời, mà bằng “Tâm”, thật sự bản chất của tảng đá không có sự linh thiêng nào cả.

Hình ảnh tôn tượng Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn mỗi bàn tay đều có con mắt trí tuệ, trong tay cầm nhiều pháp khí dùng hàng phục ma chướng, những cánh tay cầm kiếm, búa, tràng hoa, châu báu, vải lụa gấm vóc, hoa sen, bánh xe pháp, bình tịnh thủy, chày kim cang.. cũng tượng trưng cho mọi ngành nghề trong cuộc sống trên thế gian này.

Ý nghĩa tượng trưng vị bồ tát có đầy đủ năng lực khắc chế sự trói buộc của mọi cảnh trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp), không khuất phục mọi quyền lực ngoại đạo tà giáo, tuyệt đối bình đẳng trong khi cứu độ chúng sanh, biểu trưng công đức và phước đức siêu việt. Mọi người sanh ra đều có sáu cơ quan là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Kinh sách gọi là lục căn.

Nội dung, ý nghĩa và lợi ích khi trì tụng kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni

Khi sống trên đời, con người tiếp xúc hàng ngày với cảnh trần. Mắt thấy sắc (các vật có hình tướng). Tai nghe tiếng (âm thinh, lời nói). Mũi ngửi mùi hương. Lưỡi nếm vị. Thân xúc chạm. Ý nghĩ duyên theo pháp trần. Kinh sách gọi chung sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp là lục trần.

Trong cuộc sống hàng ngày, khi tiếp xúc với trần cảnh như vậy, tâm con người hay phê phán: đẹp hay xấu (mắt), dễ nghe hay khó nghe (tai), dễ ngửi hay khó ngửi (mũi), ngon hay dở (lưỡi), mịn màng hay thô nhám (thân), thương hay ghét (ý). Những sự phê phán trong tâm thức như vậy, kinh sách gọi chung là lục thức.

Người đời thường do lục căn dính mắc với lục trần sanh ra lục thức, và bắt đầu tạo nghiệp, thường là nghiệp chẳng lành. Người tu muốn phát sanh trí tuệ phải nhận rõ nguyên nhân bị cuốn vào sanh tử luân hồi là do sự dính mắc.

Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn mỗi bàn tay đều có con mắt trí tuệ, trong tay cầm nhiều pháp khí dùng hàng phục ma chướng, những cánh tay cầm kiếm...Ảnh: Internet.
Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn mỗi bàn tay đều có con mắt trí tuệ, trong tay cầm nhiều pháp khí dùng hàng phục ma chướng, những cánh tay cầm kiếm...Ảnh: Internet.
- Nếu mắt thấy sắc, tâm không phê phán đẹp xấu, khỏi bị trói buộc.

- Nếu tai nghe tiếng, tâm không phê phán, khỏi bị não phiền.

- Nếu mũi ngửi mùi, tâm không phê phán, khỏi bị bực mình.

- Nếu lưỡi nếm vị, tâm không phê phán, khỏi tạo nghiệp chướng.

- Nếu thân xúc chạm, tâm không phê phán, khỏi bị tham đắm.

- Nếu ý nhớ tưởng, tâm không phê phán, khỏi khởi sân hận, hay luyến tiếc, nhớ thương.

Tâm không phê phán nghĩa là không dính mắc, không nhiều chuyện, không chạy theo sự suy nghĩ sanh diệt, chứ không phải không nhận thức rõ đẹp xấu, đúng sai, ngon dở.

Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải có dạy:

"Tâm và cảnh không dính nhau là giải thoát".

Trong cuộc sống, chúng ta vẫn thấy, vẫn nghe, vẫn hiểu, vẫn biết tất cả các cảnh trên trần đời, nếu tâm không dính mắc, không tham đắm, thì không phiền não. Không phiền não tức là giải thoát. 

Hành Bồ Tát đạo là con đường nhập thế của người tu, 48 ngàn pháp môn diệt trừ phiền não tự thân và muôn ngàn phương cách đưa giáo lý đạo Phật giúp người cùng tu giải thoát. Con người trải qua trăm ngàn kiếp tái sanh luân hồi trong thập loại chúng sinh, tâm còn nhiều chánh tà lẫn lộn, tốt có, xấu cũng có.

Khi được thân người, thiện duyên kỳ ngộ với Phật Pháp, con người phát tâm tu muốn trở về Thật tánh chân như của mình, trước hết phải tẩy trừ nghiệp chướng sâu dầy nơi thân khẩu ý. Kinh sách dạy 48 ngàn pháp môn trừ sạch phiền não ma, phiền não chướng, chính là ngàn tay cầm pháp khí trừ ma, ngàn mắt trí tuệ sáng suốt xóa trừ vô minh.

Tượng Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt biểu trưng cho điều gì?

Con đường cứu cánh của Bồ Tát là sự kiên định, ý chí bền vững để giác ngộ được khổ, không, vô ngã, vô thường trong thật tánh của mỗi người. Để đạt được tâm thiền định và ý chí bền vững, cần áp dụng pháp tu quán tứ niệm xứ, gồm có: thân, thọ, tâm, pháp.

Niệm thân: Quán thân bất tịnh. Biết rõ thân là bất tịnh, nhiều phiền lụy, không trau chuốt theo nhu cầu đòi hỏi của thân, tu thân đoan chính trang nghiêm, đơn giản.

Niệm thọ: Quán thọ thị khổ. Thọ nhận nhiều thì khổ nhiều. Không thọ vui buồn sướng khổ, không tham đắm quyền lợi vật chất, biết tri túc sống thanh bần, đạt được an lạc trong đời sống.


 
Niệm tâm: Quán tâm vô thường. Tâm con người nay thương mai ghét, nay tốt mai xấu. Hoặc ngược lại. Do đó, khi có hạnh phúc không vui quá, khi gặp khổ nạn không than trách. Không tự tôn, chẳng tự ti, thì tâm tự tại.

Niệm pháp: Quán pháp vô ngã. Mọi sự việc xảy ra trên đời đều do nhiều nguyên nhân, nguyên do, xa và gần, không có một nguyên nhân đơn độc gây ra sự việc, nên gọi là vô ngã. Thấy được, hiểu được như vậy, tâm không còn phiền não.

Chúng sanh lăn lộn đầu thai trong lục đạo sanh tử luân hồi do nhiều căn bịnh từ vô minh ngàn kiếp, gồm: tham ái, dục vọng, chấp thủ, đoạn kiến, thường kiến, ngã mạn. Sự chân thật của Thật Tánh là người tu theo con đường Đức Phật dạy, đạt được tâm thanh tịnh, đầy đủ trí tuệ, có thể chuyển phàm phu trở thành thánh nhân hay bồ tát. 

Đức Phật Thích Ca chứng đắc tam minh: Thiên nhãn minh, Túc mạng minh, Lậu tận minh. Mắt trí tuệ của Ngài thấy được tam thiên đại thiên thế giới, thấy nhân quả trong nhiều đời nhiều kiếp, phá vô minh phiền não chấp ngã chấp pháp không còn sanh tử, ra khỏi lục đạo luân hồi. Lục đạo là sáu cảnh giới luân hồi mà con người phải đầu thai chuyển kiếp, nếu chưa sạch hết nghiệp chướng, gồm: Thiên, nhơn, a tu la, địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh.

Cõi Thiên: Sanh về cõi thiên, nơi cực lạc thế gian, hưởng phước báo thiện căn nhiều đời, được giàu sang, đủ ăn đủ mặc, có người hầu hạ, nhà cao cửa rộng, an lạc hạnh phúc.

Cõi Nhơn: Sanh vào cõi người, giàu có nghèo có, ưa thích làm việc phước thiện, cũng có khi tạo nghiệp bất thiện, hưởng phước báo và cũng chịu quả báo đau khổ, sanh, lão, bịnh tử.

Cõi A Tu La: Sanh vào nhà quyền quí, hưởng phước tốt của gia đình, có danh tiếng, có tiền của, tánh tình nóng nảy và kiêu mạn, thích bạo động, có trí thức đời và thông minh, không khéo dễ tạo nghiệp ác.

Cõi Địa Ngục: Sanh vào cõi đau khổ, vì nghiệp ác hại người sâu nặng, bị hành hạ tra tấn ngày đêm, sống không được chết không xong, đau khổ vô cùng.

Cõi Ngạ Quỉ: Sanh vào nơi bất tịnh, vì nghiệp bỏn sẻn, thường bị hãm hại, không chỗ dung thân, luôn đói khát, không có sức tự kiếm ăn, sống nhờ vào lòng tốt của mọi người.

Cõi Súc Sanh: Sanh vào nơi cầm thú, vì nghiệp sát quá nặng mà đọa vào cõi nầy, lúc nào cũng sợ bị giết, sống nơi ẩm thấp rừng sâu nước độc, mang lông đội sừng suốt kiếp.

Phật dạy: Rời xa kiến chấp, an lạc niết bàn, hàng phục ma chướng, chứng đắc trí tuệ sáng suốt, thoát ra khỏi lục đạo luân hồi, vượt khỏi giả danh, không còn chỗ thọ của bản ngã, không bị ràng buộc các pháp ác của tà ma ngoại đạo. Đó là chỗ nhận biết của người trí tuệ và là chỗ cư trú các bậc thánh, các bồ tát, các bậc giác ngộ - (Kinh Duy Ma Cật).

Từ bi (phước đức) của Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn 
Trong dân gian Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn xả thân cứu độ mọi loài, hành đạo giúp đời có thật không phải là hoang tưởng và Bồ Tát cũng là tâm Phật. Ảnh: Internet.
Trong dân gian Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn xả thân cứu độ mọi loài, hành đạo giúp đời có thật không phải là hoang tưởng và Bồ Tát cũng là tâm Phật. Ảnh: Internet.
Bồ Tát Quán Thế Âm là ai trong kinh điển Phật giáo

Xuất gia hay tại gia được các vị Tôn túc hay Sư phụ thường khuyến khích thọ bồ tát giới, vì đó là gieo căn lành cho người tu chuyển hóa phàm phu thành bồ tát. Nghĩa là nhiều đời nhiều kiếp, bằng trí tuệ sáng suốt, hạnh nguyện một vị Bồ Tát trong dân gian có thể cứu khổ cùng một lúc hàng trăm, hàng ngàn người, hoặc nhiều hơn nữa, mà không làm tổn hại bản thân hay một ai khác.

Những Bồ Tát sống trong nhân gian có rất nhiều hình tướng, tùy cơ nghi xiển dương chánh pháp, hóa độ chúng sanh, diệt ác sanh thiện, cứu khổ ban vui.

Với tâm Bồ Tát con người có thể khuyên nhủ vấn đề nan giải trong gia đình, bức xúc trong tình cảm, nỗi tuyệt vọng bị áp bức, bất công, xung đột, tranh chấp. Thiền môn cũng là nơi người Phật tử trở về nương tựa, tịnh tu, gởi gắm niềm tin hy vọng và tìm được những phương pháp xoa dịu nỗi đau tâm linh, giải quyết đau khổ mà họ đang gánh chịu.

Uy đức thiện lành từ các vị chân tu thật học, phước trí trang nghiêm có biện tài thuyết phục nhân vật quyền thế, kêu gọi hòa bình, hòa giải chiến tranh. Đó là trí lực nhiệm mầu của Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn trong nhân gian, đã cứu được hàng ngàn, hàng vạn sanh linh trong biển lửa đao binh. Tâm nguyện của người tu hành:

Thượng cầu Phật đạo,

hạ hóa chúng sanh.

Trên cầu giác ngộ,

dưới cứu dân gian.

Có rất nhiều người trên thế gian phát tâm từ thiện, vô úy thí, bố thí ngoại tài, nội tài vô điều kiện cho những mãnh đời bất hạnh, nghèo khổ, thiên tai, bịnh tật, phiền não sầu bi, gia đình tan vỡ.

Khi mới bắt đầu chỉ có một tấm lòng với hai tay đơn độc, cùng đôi mắt từ bi biểu lộ tình thương và cảm thông. Nhưng lòng từ bi của họ lâu dần lan rộng, cảm ứng tâm từ thiện đến những người xung quanh, thêm người, góp thêm một bàn tay, ngàn người tạo thành ngàn cánh tay, với tinh thần vô ngã vị tha tuyệt đối không danh không lợi.

Đó chính là những vị Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn trong nhân gian ở khắp mọi nơi.

Tóm lại, sức mạnh thiện căn của Phật Tâm Phật Tánh con người ở thế gian rất thâm sâu khó nói hết được. Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Tùng địa dũng xuất, Đức Phật ca ngợi đức độ và tin tưởng tuyệt đối, sự việc người phàm xuất thân cõi ta bà chuyển pháp luân, đầy đủ bi trí dũng, hành Bồ Tát đạo, tự tu, tự độ. Khi một người tu học Phật hiểu và hành trì giới, được định lực, có trí tuệ và từ bi, tinh thần rất mạnh mẽ cao thượng vô cùng, họ làm được những chuyện kỳ diệu nhiệm mầu không thể nghĩ bàn.

Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn trong dân gian xả thân cứu độ mọi loài, hành đạo giúp đời có thật không phải là hoang tưởng và Bồ Tát cũng là tâm Phật, là “Thật Tánh” của những con người biết tu tâm dưỡng tánh, rốt ráo đoạn trừ ma chướng tự thân.

Đạo Phật không dựa vào cầu khẩn, mê tín, trông chờ sự cứu độ của Bồ Tát bên ngoài, mà dạy phải tự chuyển đổi nghiệp xấu nơi tâm, tự cứu và phát tâm thành bồ tát muốn cứu độ những người hữu duyên sống xung quanh.

Người có tâm bất thiện nhìn thấy oai lực hình tượng Bồ Tát Thiên Thủ Thiên nhãn cảm giác sợ hãi kinh hoàng, tưởng tượng phép lạ, mơ ước kỳ nhân, chỉ biết cầu khẩn van lạy xin thật nhiều thứ. Một khi con người phước đức thiện tâm có tu, thì có cảm ứng sự dịu mát kính ngưỡng khó nghĩ bàn, tự phát nguyện tu giới hạnh và hành trì theo đức độ Bồ Tát. Tôn tượng các vị Bồ Tát thường được ngầm ý biểu trưng thuộc về tâm thức, muốn tán thán đức hạnh cao thượng của những người tu xuất thế gian có đủ Từ Bi và Trí Tuệ.

Đó là tất cả ý nghĩa thâm sâu của Vi Diệu Pháp cần suy ngẫm thấu đáo. 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

----------------------

Thiên thủ thiên nhãn bồ tát , còn gọi trong dân gian Việt Nam là Phật bà ngàn mắt ngàn tay chính là Quán thế âm bồ tát. Trong nền nghệ thuật của loài người, điệu múa về phật bà ngàn mắt ngàn tay cũng được coi là một trong những điệu múa nghệ thuật đẹp của thế giới.

Thiên thủ thiên nhãn bồ tát , còn gọi trong dân gian Việt Nam là Phật bà ngàn mắt ngàn tay chính là Quán thế âm bồ tát. 
Trong Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni của Mật tông có nói: “Trong vô lượng ức kiếp thời quá khứ, Bồ tát Quan Thế Âm nghe Đức Thiên Quang Vương Tĩnh Chú Như Lai nói thần chú Đại Bi Tâm Đà La Ni bèn phát nguyện làm lợi ích, an lạc tất cả chúng sinh. Liền khi ấy, trên người mọc ra một nghìn con mắt và một nghìn bàn tay”.


Ý nghĩa tượng thiên thủ thiên nhãn bồ tát
Thiên thủ thiên nhãn là ngàn mắt ngàn tay. Con số ngàn không chỉ có nghỉa đen là đúng một ngàn , mà ám chỉ một số lượng nhiều vô số kể, không đếm được. Do đó nên hình tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên Nhãn trên thực tế tại các chùa có thể có hơn 1000 tay, cũng có thể có  vài chục tay hay  vài trăm tay.
Nghìn mắt để thấy khắp thế gian và nghìn tay để cứu vớt chúng sinh

Bàn tay tượng trưng cho hành động. Muốn làm việc gì cũng phải dùng đến bàn tay.

Con mắt tượng trưng cho sự xem xét, quán thông, thấu suốt, thấy rõ tường tận tất cả chúng sinh ở các cõi, thấy cả xa lẫn gần, cả to lớn lẫn tế vi, trước mặt và sau lưng, trên và dưới, ban ngày và ban đêm…

Tượng có thể có hình con mắt trong lòng bàn tay, tượng trưng cho ý nghĩa hễ mắt để đâu thì tay theo đó. Hễ nhìn thấy nơi nào có chúng sanh khổ nạn là ngài ứng hiện và dang bàn tay từ bi ra để cứu giúp tức thì.

Tượng thiên thủ thiên nhãn cũng có thể tạc một số cánh tay cầm các tùy vật. Các tùy vật của Quan Âm thương thấy có ở các cánh tay này là cây gậy hành hương, mũi tên, Mặt Trăng, hoa sen xanh, bình nước, ngũ sắc tường vân, kiếm, hoa sen trắng, sọ người, gương soi, chùm nho, cây kích, kinh văn, thủ ấn, đinh ba, tràng hạt, phật, thiên cung, phất trần, thiền trượng, cung tên, hoa sen đỏ, vòng tay...
Hình ảnh Đức Quan Thế Âm có thiên thủ thiên nhãn hàm ý là Bồ Tát thấy được hằng hà sa số khổ nạn của chúng sanh trong cõi ta bà và ngay lập tức đưa hàng hà sa số bàn tay từ bi của Ngài đến với từng trường hợp để cứu giúp, đểxoa dịu, để đưa họ ra khỏi chốn khổ  đau và dìu dắt họlên đến  bến bờ hạnh phúc, an lạc. 

----------------------------

Ý NGHĨA HÌNH ẢNH ĐỨC QUAN ÂM THIÊN THỦ THIÊN NHÃN
 

Đức Quan Thế Âm Tự Tại vì lòng từ bi phát khởi bi nguyện muốn cứu độ chúng sinh thoát khỏi vô minh mê vọng, không phải chịu khổ trong ba đường ác. Đức Phật Di Đà phóng quang gia trì khiến đức Quan Âm hoá hiện mười một đầu, đầu trên cùng là Đức Phật Di Đà và pháp tướng Ngài có nghìn mắt nghìn tay để có thêm phương tiện tức tốc cứu độ chúng sinh. Thân Ngài sắc trắng, 11 đầu, có một đầu hiện tướng phẫn nộ.
Đức Phật Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn đứng trên tòa sen trong tư thế chữ nhất, nêu biểu sự hợp nhất của lòng từ bi và trí tuệ.
Phần hạ y của Đức Quan Âm tượng trưng cho bản tính Phật còn ẩn tàng trong mỗi chúng sinh. Các trang sức, tua lụa tượng trưng cho các công hạnh giác ngộ của ngài, rất uyển chuyển linh hoạt trong các cõi. Phần đầu của tua lụa luôn hướng lên, thể hiện chiến thắng trước tham sân si. Nửa thân dưới có các trang sức và xiêm y nêu biểu cho việc đem tất cả năng lượng ái dục vào con đường tu tập giác ngộ bởi vì tất cả những năng lượng tiêu cực không bị chối bỏ mà chuyển hóa thành đại từ đại bi và trí tuệ và những công hạnh độ chúng sinh tự lợi lợi tha.

Nửa thân trên của Đức Phật Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn tượng trưng cho tâm Phật đã được chứng ngộ hoàn toàn, không bị che đậy bởi vô minh tăm tối. Các trang sức nêu biểu cho các công hạnh ba la mật.


Đức Phật Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn có ba lớp tay: trong cùng là 8 tay tượng trưng cho Pháp thân, lớp ở giữa có 42 tay tượng trưng cho Báo thân, lớp tay ngoài cùng tượng trưng cho Hóa thân. Các tay của Đức Quan Âm tượng trưng cho phương tiện, trên mỗi bàn tay có một con mắt tượng trưng cho trí tuệ. Con mắt trong lòng bàn tay hàm ý sự hợp nhất của phương tiện và trí tuệ Phật. Tám cánh tay ở lớp trong cùng tượng trưng hoa sen tám cánh, đồng thời tương ứng với tứ trí (Đại Viên Cảnh trí, Diệu Quan sát trí, Bình đẳng tính trí, Thành sở tác trí) và tứ đức (từ, bi, hỷ, xả).

Hai cánh tay trong cùng của Đức Quan Âm đang ôm ngọc Mani. Ngọc Mani là biểu tượng của sự viên mãn tâm nguyện thế gian và xuất thế gian. Ở ý nghĩa sâu sắc hơn đó là sự giàu có tâm bồ đề. Hình ảnh bàn tay ôm ngọc mani chính là biểu tượng của sự hợp nhất giữa lòng từ bi vô lượng và trí tuệ siêu việt của đức Phật.
Các cánh tay còn lại:
Cánh tay cầm chuỗi tràng thủy tinh là biểu tượng của lòng từ bi, sự thanh tịnh và việc lần chuỗi tràng chính là sự cứu độ liên tục không ngừng nghỉ của ngài

Cánh tay cầm pháp luân nêu biểu việc ngài mang giáo pháp của Đức Phật ban trải và cứu độ khắp nơi – chuyển bánh xe pháp vô ngại của đức Quan Âm (là tượng trưng cho các lần chuyển bánh xe Pháp của Đức Phật vì lợi lạc của hết thảy chúng sinh)

Cánh tay chỉ xuống là biểu tượng cho vô úy thí: ngài ban gia trì cho chúng sinh vượt qua sự sợ hãi, vượt qua mọi khổ đau phiền não, bởi vì chúng sinh từ lúc sinh ra đã bị ám ảnh  bởi rất nhiều nỗi sợ hãi (nỗi sợ hãi bao trùm, từ lúc sinh ra cho tới lúc chết đi: sợ đói, nghèo, bất hạnh, không danh vọng...) chính vì thế Đức Phật Quan Âm hiện cánh tay thí vô úy để cứu khổ ban cho chúng sinh những viên mãn tâm nguyện thế gian.

Cánh tay cầm hoa sen: tượng trưng cho Bồ đề tâm thanh tịnh, phẩm hạnh giác ngộ của chư Phật, cũng như hoa sen mọc từ bùn mà không nhiễm nhơ, tiêu biểu cho bản nguyện của ngài vào dời cứu khổ chúng sinh mà không bị chi phối.

Cánh tay cầm cung tên: xạ thủ giương cung;  mắt - cung - đích trên cùng 1 đường tượng trưng cho sự rõ ràng, hợp nhất của căn, đạo quả (mục đích, con đường tu tập, và thành tựu). Bàn tay của Đức Phật Quan Âm cầm cung tên tượng trưng cho sự nhất tâm điều phục tất cả mọi vọng tưởng, giải thoát khỏi luân hồi, đánh bại 4 ma (tử ma, ngũ ấm ma, phiền não ma, thiên ma).

Cánh tay cầm bình cam lồ: tượng trưng cho năng lượng pháp vị cam lồ, tượng trưng sự gia trì của chư Phật để diệt trừ tất cả phiền não đau khổ tham sân si của chúng sinh.

42 tay ở giữa nêu biểu báo thân Phật, nêu biểu 42 thánh vị tu chứng (thập trụ, thập hạnh, thập địa, thập hồi hướng, đẳng giác và diệu giác) để cứu độ 25 cõi chúng sinh trải qua 42 thánh vị để thành tựu giác ngộ.

Lớp tay ngoài cùng tượng trưng cho Hóa thân phật đi tất cả các nẻo trong luân hồi để cứu độ chúng sinh. Mắt (trí tuệ) trong lòng bàn tay (phương tiện).
Phần đầu của Đức Quan Âm (tiêu biểu cho 11 quả vị giác ngộ): gồm 5 tầng tượng trưng cho ngũ trí Phật; đầu trên cùng là biểu tượng của Pháp thân (Đức Phật Di Đà) nêu biểu cho chính đẳng chính giác, tiếp đến là Báo thân (Đức Kim Cương Thủ trong hiện tướng phẫn nộ chính là Bất không thành tựu Phật ở phương Nam), 3 tầng dưới (9 đầu còn lại) là biểu tượng của Hóa thân.
Ba khuôn mặt ở giữa nêu biểu cho Đại viên cảnh trí là Đức Phật A Súc Bệ ở phương Đông, 3 mặt này hiện tướng từ bi vì thấy chúng sinh làm thiện mà ngài sinh tâm an lạc, đại từ đại bi. Ba mặt bên trái nêu biểu sự hàng phục ngã ái – bình đẳng tính trí của đức Bảo Sinh Phật ở phương nam. Ba mặt này vì thấy chúng sinh làm ác mà khởi tâm phẫn nộ, hàng phục chuyển hóa những chúng sinh cương cường khó độ. Ba khuôn mặt bên phải nêu biểu năng lực thuyết pháp của Diệu quan sát trí của Phật A Di Đà ở phương Tây.
Đức Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn mang trên mình các sức trang hoàng, tương ứng với Ngũ bộ Phật và Ngũ Trí.

 
Khuyên tai tương ứng với Đức Phật A Di Đà, nêu biểu cho Diệu quan sát trí

Vòng cổ tương ứng với đức Phật Bảo Sinh, nêu biểu cho Bình đẳng tính trí

Các vòng tay tương ứng với Phật Tỳ Lư Giá Na, nêu biểu Pháp giới thể tính trí

Đai lưng Phật tương ứng với Phật Bất Không Thành Tựu, nêu biểu Thành sở tác trí

Mũ (vương miện) tương ứng Phật A Súc Bệ, tiêu biểu Đại viên cảnh trí

Ba lọn tóc của Đức Quan Âm nêu biểu năng lực bi, trí, dũng đồng thời tượng trưng cho tam bình đẳng (Phật, chúng sinh và tâm đều bình đẳng không sai khác).

 
Đức Quan Âm khoác tấm da nai, tượng trưng cho bi nguyện đồng sự của ngài. Ngài đi vào lục đạo luân hồi, đồng cam cộng khổ với chúng sinh.

 
Tứ phía của bức Thangka tượng trưng tứ phía với các Bản tôn:

Phương Nam: Bản tôn Văn thù tiêu biểu cho Bảo Sinh Phật - Bình đẳng tính trí

Phương Tây: Bản tôn Bạch độ Mẫu và Đức Phật A Di Đà - Diệu quan sát trí

Phương Bắc: Bản tôn Lục độ Mẫu - Bất Không Thành Tựu - Thành sở tác trí

Phương Đông: Bản tôn Kim Cương thủ - A Súc Bệ Phật - Đại viên cảnh trí

 
Đức Di Đà ở giữa là Pháp thân là thể của Đức Quan Âm và về phần sự ngài là căn bản thương sư của Đức Quan Âm. Về phần lý Đức Di Đà là trí tuệ của pháp thân, Đức Quan Âm là phương tiện của lòng từ bi. Tuy Đức Quan Âm nhập thế cứu độ chúng sinh hoạt động cứu độ chúng sinh trong khắp nẻo luân hồi nhưng vẫn an trụ trong đại định của Đức A Di Đà.
Ngoài ra trong bức Thangka còn có các loài hoa tượng trưng cho các công hạnh của Phật, muôn thú vạn loài hữu tình đều hoan hỷ quy y Phật.
Phía dưới bức Thangka là ngọc Mani, tượng trưng cho sự giàu có của tâm Bồ đề (phần lý), hay là tượng trưng cho các phẩm vật cúng dường và sự viên mãn tâm nguyện của chúng sinh (phần sự). Tấm gương là biểu tượng của Đại viên cảnh trí, có thể soi rọi nghiệp chướng của chúng sinh một cách rõ ràng. Cây đàn là biểu tượng của diệu âm thanh, nêu biểu 60 diệu âm giác ngộ của Phật.

-----------------------------

Vài nét về Tượng Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn
Tượng Quan Âm Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn mà dân gian vẫn gọi là Tượng Phật nghìn mắt nghìn tay được dựng từ năm 1656 (thời Lê Trung Hưng), do nhà điêu khắc tài hoa Trương Thọ Nam tạc. Theo các nhà nghiên cứu, đây là pho tượng độc đáo nhất trong số các tượng Quan Âm cổ hiện có ở Việt Nam. Pho tượng được làm bằng đá , tĩnh tọa trên tòa sen với tổng chiều cao (cả phần bệ) là 3,7 mét với 42 cánh tay lớn và 952 cánh tay nhỏ.

Trong mỗi lòng bàn tay có một con mắt tạo thành vòng hào quang tỏa sáng xung quanh pho tượng đá. Tổng số có 994 cánh tay và 994 con mắt, nhưng người dân đã khéo léo làm “tròn số” với cách nói ước lệ là “nghìn mắt nghìn tay”. Nghệ thuật điêu khắc của pho tượng đã đạt tới sự hoàn hảo khi tạo ra những hình phức tạp với nhiều đầu, nhiều tay mà vẫn giữ được vẻ tự nhiên, cân đối.

Các cánh tay lớn một đôi đặt trước bụng, một đôi chắp trước ngực, còn 38 tay kia đưa lên như đóa hoa sen nở. Phía trên đầu tượng lắp ghép 11 mặt người chia thành 4 tầng, trên cùng là tượng A-di-đà nhỏ. Vẻ đẹp “vô tiền khoáng hậu” của pho tượng là có tính tượng trưng cao với sự lồng ghép hàng ngàn chi tiết mà vẫn mạch lạc về bố cục, hài hòa trong diễn tả hình khối và đường nét.

Pho tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn ở chùa Bút Tháp chứa đựng nhiều triết lý sâu xa.

Ở pho tượng này, nghệ nhân Trương Thọ Nam đã đặt mặt Quan Âm vào trung tâm của pho tượng. Mặt trời là mặt Phật Quan Âm nổi bật nhất, sáng ngời, đầy vẻ từ bi hỉ xả. Mặt trời ở đây được thể hiện là bình minh, những tia sáng chiếu tỏa lên trên chứ không tỏa ngang với triết lý nhân sinh cao cả theo quan niệm của người xưa là: Cái thiện là thế đang đi lên, có sức mạnh chiến thắng.

Mặt trời sáng ngời còn biểu tượng cho trí tuệ đức Phật bà đi khắp muôn phương xua tan bóng tối. Những kẻ có hành vi ám muội cũng không thể che nổi mắt Phật. Để diễn tả thâm ý này, tác giả đã khắc con mắt trong lòng bàn tay biểu tượng cho hàng nghìn vì sao trong thiên hà.

Với nội dung hoàn chỉnh bậc nhất về thế giới quan và nhân sinh quan theo quan điểm Phật giáo truyền thống và hình thức nghệ thuật đạt được sự hoàn mỹ trác tuyệt, tượng Phật nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp từng được vinh danh với giải đặc biệt khi tham gia triển lãm nghệ thuật Phật giáo Quốc tế tại Ấn Độ từ năm 1958.

Ý nghĩa danh xưng Phật Thiên Thủ Nhãn
Bạn hiểu một cách đơn giản nhất, chính là Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn có nghìn bàn tay là có bấy nhiêu con mắt; có biết là có làm, có làm nghĩa là có biết. Nếu chỉ có một trăm tay nhưng sẽ có tới nghìn mắt thì điều này chỉ là minh chứng cho việc biết nhiều làm ít, không có được lợi ích gì đối với chúng sinh.

Phật giáo luôn cao giá trị chân lý này với hình tượng Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn. Nếu như bạn đi đúng con đường ấy thì chắc chắn làm cho chúng sinh sẽ bị ảnh hưởng được nhiều lợi ích an lạc nhất.

Như vậy, hình tượng của Phật bà Thiên Thủ Thiên Nhãn đã và đang để lại cho nhiều người bài học đầy tình người nhưng lại rất trí tuệ. Phật bà có tới nghìn tay để làm thế nhưng cũng phải có nghìn mắt để “biết”. Dù trải qua nhiêu biến động với thời gian thế nhưng nó vẫn không thay đổi.

------------------------

Thiên Thủ Thiên Nhãn là gì?
Thiên Thủ Thiên Nhãn (còn gọi là Bồ Tát Chuẩn Đề, Bồ Tát Quán Thế Âm  hay Bồ Tát Quán Tự Tại) là vị Phật nghìn tay nghìn mắt. Phật Thiên Thủ đã tự hóa thân thành ngàn mắt, ngàn tay để soi thấu hết chốn trần gian và dang rộng vòng tay cứu giúp những mảnh đời bất hạnh chốn nhân gian.

Ý nghĩa tên Thiên Thủ Thiên Nhãn
Thiên là : nhiều, vô số
Thủ là : tay
Nhãn là : mắt
Thiên Thủ Thiên Nhãn tức là vô số tay, vô số mắt

Ý nghĩa tên Quan Thế Âm
Quan là : thấu suốt
Thế là : trần gian
Âm là : âm thanh
Quan Thế Âm: là cứu khổ, lắng nghe nơi nào có tiếng kêu cứu của chúng sanh trần gian  là ứng hiện để cứu độ.

Biểu tượng, pháp khí trên người phật Thiên Thủ Quan Âm bồ tát
Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn có nhiều tay nhiều mắt, trên mỗi bàn tay đều có con mắt (được gọi là mắt Trí tuệ).

Ý nghĩa Phật bản mệnh Quan Âm nghìn tay?
Thiên Thủ Thiên Nhãn là Phật Quan Âm nghìn tay nghìn mắt (số lượng cụ thể mấy trăm, mấy ngàn, mấy nghìn,.. thì tùy từng nơi sẽ có ấn định số lượng riêng).

+ Bàn tay tượng trưng cho hành động

+ Con mắt tượng trưng thấu suốt

Từ số lượng tay và mắt nhiều vô kể mà Phật có thể ứng hiện và dang bàn tay từ bi ra để cứu giúp tức thì (hễ mắt để đâu thì tay theo đó) dù ở bất kỳ đâu trên thế gian, Phật cũng thấy rõ tường tận tất cả. Khi đem Phật bản mệnh theo sẽ luôn bình an, may mắn và thành công

Những ai nên đeo Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm bồ tát
Ông bà, bố mẹ: Đeo để luôn bình an, may mắn.
Vợ chồng: để gia đình hạnh phúc
Con cháu: để sự nghiệp thành công, học hành tiến tới
Đặc biệt khi tặng Phật bản mệnh cho người thân của bạn sẽ mang 1 ý nghĩa vô cùng to lớn. Muốn đem những điều tuyệt vời nhất, mong mọi người có sức khỏe tốt, gia đình hạnh phúc, con đường công danh thăng tiến, học tập tốt,..

Ý nghĩa Phật bản mệnh Quan Âm nghìn tay?
Thiên Thủ Thiên Nhãn là Phật Quan Âm nghìn tay nghìn mắt (số lượng cụ thể mấy trăm, mấy ngàn, mấy nghìn,.. thì tùy từng nơi sẽ có ấn định số lượng riêng).

+ Bàn tay tượng trưng cho hành động

+ Con mắt tượng trưng thấu suốt

Từ số lượng tay và mắt nhiều vô kể mà Phật có thể ứng hiện và dang bàn tay từ bi ra để cứu giúp tức thì (hễ mắt để đâu thì tay theo đó) dù ở bất kỳ đâu trên thế gian, Phật cũng thấy rõ tường tận tất cả. Khi đem Phật bản mệnh theo sẽ luôn bình an, may mắn và thành công

Những ai nên đeo Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm bồ tát
Ông bà, bố mẹ: Đeo để luôn bình an, may mắn.
Vợ chồng: để gia đình hạnh phúc
Con cháu: để sự nghiệp thành công, học hành tiến tới
Đặc biệt khi tặng Phật bản mệnh cho người thân của bạn sẽ mang 1 ý nghĩa vô cùng to lớn. Muốn đem những điều tuyệt vời nhất, mong mọi người có sức khỏe tốt, gia đình hạnh phúc, con đường công danh thăng tiến, học tập tốt,..

Đeo Phật bản mệnh thiên thù thiên nhãn sẽ giúp cho bạn 

Hộ thân: Phật bản mệnh là vị Phật sẽ đi theo bạn để phù hộ và độ trì cho bạn trên suốt chặng đường đời. Khi đeo mặt Phật luôn ẩn chứa niềm tin và sự tin cậy của bạn trong đó. Mong muốn giữ Phật bên mình đời đời bình an.

Công việc và tài chính: Phật hộ mệnh tuổi sửu bên bạn, độ trì cho bạc để tránh tiểu nhân hãm hại, nếu có khó khăn thì có thể vượt qua. Hướng đến sự nghiệp phát triển hơn, con đường rộng mở và tốt lành hơn.

Học tập: giúp khai mở trí tuệ, nhớ được lâu hơn, học hành tốt đẹp, thi cử thành công, tương lai mở rộng.

Sức khỏe: Sản phẩm chất liệu bằng bạc thái hay đá tự nhiên sẽ luôn tốt cho người đeo, giúp tăng nguồn năng lượng và bảo vệ sức khỏe. 

Tình duyên: Nhiều người chọn đeo Phật bản mệnh để hóa giải lận đận về đường tình duyên. Với ai có gia đình thì mong muốn gia đình được bảo vệ, tránh những điều không tốt.

------------------

Ý nghĩa hình ảnh của Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn
Hình ảnh Đức Quan Thế Âm có thiên thủ thiên nhãn hàm ý là Bồ Tát thấy được hằng hà sa số khổ nạn của chúng sanh trong cõi ta bà. Và ngay lập tức đưa hàng hà sa số bàn tay từ bi của Ngài đến với từng trường hợp. Để cứu giúp, để xoa dịu, để đưa họ ra khỏi chốn khổ đau. Dìu dắt họ lên đến bến bờ hạnh phúc, an lạc.

Khi sống trên đời, con người tiếp xúc hàng ngày với cảnh trần. Mắt thấy sắc. Tai nghe. Mũi ngửi mùi hương. Lưỡi nếm vị. Thân xúc chạm. Ý nghĩ duyên theo pháp trần. Trong cuộc sống hàng ngày, khi tiếp xúc với trần cảnh như vậy. Tâm con người hay phê phán. Đẹp hay xấu, dễ nghe hay khó nghe, dễ ngửi hay khó ngửi, ngon hay dở, mịn màng hay thô nhám, thương hay ghét.

Người đời thường do lục căn dính mắc với lục trần sanh ra lục thức. Bắt đầu tạo nghiệp. Thường là nghiệp chẳng lành. Người tu muốn phát sanh trí tuệ phải nhận rõ nguyên nhân bị cuốn vào sanh tử luân hồi là do sự dính mắc.

– Nếu mắt thấy sắc, tâm không phê phán đẹp xấu, khỏi bị trói buộc.

– Nếu tai nghe tiếng, tâm không phê phán, khỏi bị não phiền.

– Nếu mũi ngửi mùi, tâm không phê phán, khỏi bị bực mình.

– Nếu lưỡi nếm vị, tâm không phê phán, khỏi tạo nghiệp chướng.

– Nếu thân xúc chạm, tâm không phê phán, khỏi bị tham đắm.

– Nếu ý nhớ tưởng, tâm không phê phán, khỏi khởi sân hận, hay luyến tiếc, nhớ thương.

Tâm không phê phán nghĩa là không dính mắc, không nhiều chuyện, không chạy theo sự suy nghĩ sanh diệt, chứ không phải không nhận thức rõ đẹp xấu, đúng sai, ngon dở.

Ý nghĩa khi sử dụng phật bản mệnh Thiên Thủ Thiên Nhãn
Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, các Bản tôn được các tín đồ Phật giáo tín phụng, cúng dường. Trở thành các thiện thần, trợ giúp con người. Chuyển hung thành cát, sự nghiệp hanh thông, gia đình hạnh phúc, có sức khỏe, phòng tránh bệnh tật.

Muốn hóa giải tai ương, cầu bình an, may mắn, thành công. Thì nên đeo hình vị phật hộ mệnh cho con giáp của mình. Làm việc tốt kết hợp cùng hướng tới vị phật bản mệnh để cầu phúc.

Bố mẹ nên đeo Phật Độ Mệnh cho con cái được sức khỏe, bình an.

Vợ chồng cùng đeo để gia đình hạnh phúc, sự nghiệp thành công.

Con cháu nên tặng và đeo cho ông bà để cầu chúc sức khỏe, an lạc.

Sử dụng Phật bản mệnh Thiên Thủ Thiên Nhãn cho người tuổi Tý
Khi cõi người mới sinh ra, Bồ Tát phân nhiệm vụ những loài thú này bảo vệ. Nhận được lợi ích nên 12 con giáp cũng dựa vào đó để đặt ra. Mỗi con giáp sẽ thuộc quản lý và nhận được sự độ mệnh của một vị Phật khác nhau. Những vị phật này sẽ bảo hộ và mang đến may mắn, sức khỏe, thành công cho những con giáp này.

Thiên Thủ Thiên Nhãn tượng trưng cho sự nhân ái, từ bi. Ngài giúp những người sinh năm Tý khắc phục những tật xấu. Như kén chọn, khó tính, đa nghi. Giúp mọi việc được thuận lợi như ý. Cầu được ước thấy. Vì vậy người sinh năm Tý sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn. Ngài sẽ giúp bạn vượt qua được mọi khó khăn, trắc trở trong cuộc sống. Có đủ ý chí và niềm tin để chiến thắng mọi bệnh tật.

Khi vận may của bạn tìm đến, Ngài sẽ góp sức để vận thế của bạn thêm huy hoàng, xán lạn. Ngược lại, nếu bạn đang gặp vận rủi, có nhiều điều khó khăn. Ngài sẽ giúp bạn hóa giải mọi khó khăn. Vượt qua các trở ngại một cách thuận lợi để có cuộc sống bình an, hạnh phúc và may mắn.
Nếu muốn cầu bình an, may mắn, hạnh phúc. Tuổi Tý nên đeo mặt dây chuyền hình tượng Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn. Bạn sẽ được Ngài phù hộ cho tuổi của mình.

Khi Nào Bạn Nên Đeo Trang Sức Phong Thủy Phật Bản Mệnh

Hướng Dẫn Phân Biệt Kính Cơn Ao Giá Rẻ Và Hàng Malasyaia Đơn Giản

 

Chat Zalo
Liên hệ qua Zalo
Call:0902277552